(SHTT) - Trong môi trường số, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không thể chỉ dừng ở việc gỡ từng đường dẫn, khóa từng tài khoản. Theo Luật sư Lê Quang Vinh, cần hình thành cơ chế thực thi có khả năng truy vết, phối hợp và chống tái phạm, qua đó tạo nền tảng bảo vệ giá trị sáng tạo và thúc đẩy công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Tại Hội thảo “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số” diên ra ngày 27/8 do Báo Nhân dân tổ chức, Luật sư Lê Quang Vinh, Thành viên Ban Pháp chế Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Giám đốc Công ty SHTT Bross & Partners, cho rằng công nghiệp văn hóa Việt Nam chỉ có thể phát triển bền vững khi các sản phẩm sáng tạo không chỉ được tạo ra mà còn có khả năng được cấp phép, đầu tư, lưu thông và bảo vệ một cách thực chất.
Theo tham luận “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, từ phản ứng theo từng đường dẫn đến một cơ chế bảo vệ có khả năng truy vết, phối hợp và chống tái phạm”, môi trường số đang làm thay đổi đáng kể cách thức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Một hành vi có thể diễn ra xuyên biên giới, thông qua nhiều lớp tài khoản, tên miền, máy chủ, nền tảng,... Do đó, việc gỡ một đường dẫn, khóa một tài khoản hay xử phạt một người bán chưa đồng nghĩa với việc đã xử lý được mô hình vi phạm.
.png)
Luật sư Lê Quang Vinh, Thành viên Ban Pháp chế Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Giám đốc Công ty SHTT Bross & Partners. Ảnh: Thế Đại
Không chỉ gỡ bỏ, phải xử lý được tận gốc
Theo Luật sư Lê Quang Vinh, đối với công nghiệp văn hóa, các sản phẩm như phim, bản ghi âm, chương trình phát sóng, sách điện tử, trò chơi, thiết kế, chương trình máy tính hay các dấu hiệu nhận diện chỉ trở thành tài sản bền vững khi chủ thể quyền có khả năng kiểm soát việc khai thác, cấp phép và phản ứng đủ nhanh khi quyền bị xâm phạm.
Vì vậy, hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ không nên chỉ được đo bằng số cuộc kiểm tra, số quyết định xử phạt, số tài khoản bị khóa hoặc số đường dẫn bị gỡ.
Một nội dung vi phạm bị gỡ sau hai tuần khác hoàn toàn với việc được ngăn chặn trong vài giờ. Một gian hàng bị khóa nhưng người vận hành nhanh chóng mở nhiều gian hàng khác cũng chưa tạo ra kết quả bền vững. Tương tự, một quyết định xử phạt được ban hành nhưng không thi hành được cũng khó tạo ra sức răn đe thực tế.
Thước đo cần hướng tới những kết quả cụ thể hơn, như thời gian từ khi phát hiện đến khi áp dụng biện pháp đầu tiên, khả năng xác định người vận hành và nguồn cung, khả năng sử dụng chứng cứ để chuyển sang tuyến xử lý tiếp theo, tỷ lệ tái phạm, khả năng thi hành quyết định, mức độ bù đắp thiệt hại và chi phí mà bên vi phạm phải chịu khi tái phạm.
Tuy nhiên, thực thi hiệu quả không có nghĩa là áp dụng biện pháp nặng nhất cho mọi trường hợp. Quyền sở hữu trí tuệ có phạm vi, thời hạn, lãnh thổ và những giới hạn nhất định. Vì vậy, cần phân biệt giữa hành vi xâm phạm với cạnh tranh hợp pháp, hàng hóa chính hãng, hoạt động được cấp phép, các ngoại lệ và giới hạn quyền, trích dẫn hoặc phê bình được pháp luật cho phép.
Đây cũng là yêu cầu được đặt ra trong các cam kết quốc tế. Điều 41 Hiệp định TRIPS yêu cầu các thủ tục thực thi phải đủ hiệu quả để chống xâm phạm, đồng thời phải công bằng, không tạo ra rào cản không cần thiết đối với thương mại hợp pháp và phải có cơ chế chống lạm dụng. EVFTA cũng đặt yêu cầu các biện pháp thực thi phải hiệu quả và tương xứng.
Vi phạm trên mạng, cần truy vết ở nhiều lớp
Nếu trong môi trường vật lý, lực lượng thực thi có thể kiểm tra cửa hàng, kho hoặc xưởng để xác định người quản lý, thì trên môi trường số, thứ công chúng nhìn thấy thường chỉ là lớp ngoài cùng.
Đằng sau một tài khoản có thể là một người vận hành khác. Đằng sau người bán có thể là kho trung chuyển. Tài khoản nhận tiền có thể không trùng với tên gian hàng. Trang thông tin điện tử có thể sử dụng tên miền được đăng ký qua dịch vụ che giấu thông tin, máy chủ đặt ở nước ngoài, hoạt động quảng cáo do bên khác thực hiện và hàng hóa được vận chuyển qua nhiều đơn vị kho vận.
Một đường dẫn biến mất vì vậy chưa trả lời được ai tổ chức hành vi, hàng hóa đến từ đâu, dòng tiền đi về đâu và bằng cách nào ngăn hành vi tái diễn.
Theo tham luận, để biến một dấu hiệu vi phạm thành vụ việc có khả năng xử lý, cần kết nối ít nhất sáu mắt xích gồm quyền được viện dẫn, hành vi cụ thể, đối tượng hoặc nội dung bị khiếu nại, chủ thể thực hiện hoặc kiểm soát, hậu quả, quy mô hoặc lợi ích thu được và cơ chế có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết.
Trong đó, chứng cứ điện tử có vai trò đặc biệt quan trọng. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 ghi nhận thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì được thể hiện dưới dạng điện tử. Giá trị chứng cứ phụ thuộc vào độ tin cậy của quá trình khởi tạo, gửi, nhận, lưu trữ, khả năng bảo đảm tính toàn vẹn và xác định chủ thể liên quan.
Do đó, quá trình thu thập chứng cứ cần ghi nhận thời điểm, múi giờ, địa chỉ liên kết (URL), mã tài khoản, toàn bộ ngữ cảnh hiển thị, tệp gốc nếu có, lịch sử thay đổi, quá trình mua thử, mã đơn hàng, chứng từ thanh toán, giao hàng, thông tin liên hệ và quá trình lưu giữ, bàn giao dữ liệu.
Điều quan trọng là chứng cứ phải được bảo toàn trước khi hành vi vi phạm biến mất. Nếu gửi yêu cầu gỡ bỏ ngay nhưng chưa lưu lại URL, tài khoản, đơn hàng, mẫu sản phẩm, dữ liệu thanh toán và vận chuyển, chủ thể quyền có thể đạt được mục tiêu ngắn hạn là làm nội dung biến mất nhưng lại làm suy yếu khả năng xử lý người đứng sau.
.png)
Sáng 27/8, Báo Nhân Dân đã tổ chức Hội thảo “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số”. Ảnh: Thế Đại
Khung pháp lý mới cần được vận hành đúng vị trí
Tham luận cho thấy hệ thống pháp luật năm 2026 đã bổ sung nhiều công cụ đáng chú ý cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số.
Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, đã sửa đổi Điều 198b theo hướng mở rộng khung trách nhiệm pháp lý liên quan đến doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số. Luật cũng bổ sung yêu cầu chủ quản nền tảng số triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng theo pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật có liên quan.
Đáng chú ý, các sửa đổi đối với Điều 202 và Điều 207 bổ sung những công cụ dân sự và biện pháp khẩn cấp tạm thời có khả năng tác động trực tiếp hơn đến kiến trúc số duy trì hành vi xâm phạm, trong đó có việc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đối với thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc định danh địa chỉ mạng liên quan đến hành vi xâm phạm.
Tuy nhiên, Luật sư Lê Quang Vinh lưu ý không nên hiểu Điều 198b như một nghĩa vụ giám sát tuyệt đối đối với mọi nền tảng, cũng không nên coi đây là một thủ tục gỡ bỏ thống nhất cho tất cả các loại quyền sở hữu trí tuệ.
Đặc biệt, quyền tác giả và quyền liên quan hiện có cơ chế thông báo, gỡ bỏ và phản đối tương đối cụ thể theo Nghị định số 17/2023/NĐ-CP. Nghị định số 341/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan cũng bổ sung chế tài đối với một số nghĩa vụ liên quan của doanh nghiệp trung gian.
Trong khi đó, cơ chế này không thể mặc nhiên áp dụng nguyên trạng cho nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, bí mật kinh doanh hay các tranh chấp chỉ dẫn thương mại.
Đây là điểm có ý nghĩa thực tiễn lớn. Với một bản sao số của bộ phim, bản ghi hoặc tác phẩm đã được xác định, công cụ đối sánh tệp hoặc dấu vân tay số có thể hỗ trợ phát hiện tương đối hiệu quả. Nhưng với hàng hóa mang nhãn hiệu, một hình ảnh hoặc từ khóa trùng nhau chưa đủ để kết luận đó là hàng giả. Hàng hóa có thể là hàng chính hãng, hàng nhập khẩu song song, hàng được cấp phép hoặc thuộc trường hợp sử dụng dấu hiệu hợp pháp khác.
Do đó, công nghệ có thể hỗ trợ sàng lọc và phát hiện rủi ro, nhưng kết luận pháp lý vẫn cần dựa trên quyền được bảo hộ, hành vi cụ thể, nguồn hàng và các căn cứ sử dụng liên quan.
Sáu bước để chuyển từ phát hiện sang xử lý
Từ những phân tích trên, Luật sư Lê Quang Vinh đề xuất một mô hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ 6 bước trên môi trường số như sau:
Thứ nhất, kiểm tra quyền, xác định đối tượng bảo hộ, chủ thể có quyền yêu cầu, phạm vi, thời hạn, tình trạng hiệu lực, chuyển giao, li-xăng và các giới hạn, ngoại lệ liên quan.
Thứ hai, phân loại đúng hành vi. Không nên gọi mọi sản phẩm tương tự là hàng giả hoặc mọi nội dung giống nhau là đạo văn. Cần xác định chính xác hành vi sao chép, truyền đạt, phân phối, giả mạo nhãn hiệu, sử dụng dấu hiệu gây nhầm lẫn, chiếm đoạt bí mật kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh hay hành vi khác.
Thứ ba, khóa chứng cứ, ghi nhận nội dung, thời điểm, URL, tài khoản, giao dịch, quảng cáo, thanh toán và kho vận, đồng thời lưu tệp gốc, bảo quản mẫu vật và ghi nhận quá trình bàn giao khi cần thiết.
Thứ tư, xác định chủ thể và dòng lợi ích, từ người vận hành, người bán đến kho hàng, tài khoản nhận tiền, số điện thoại, địa chỉ giao nhận và những dấu hiệu khác của mạng lưới.
Thứ năm, lựa chọn mục tiêu và tuyến xử lý phù hợp, có thể là nền tảng, hành chính, dân sự, hình sự, hải quan hoặc chặn truy cập trong những trường hợp đáp ứng điều kiện pháp luật.
Thứ sáu, chống tái phạm và đánh giá kết quả, sử dụng dữ liệu từ vụ việc đã xử lý để phát hiện hành vi lặp lại, cập nhật hồ sơ rủi ro và quyết định khi nào cần chuyển từ xử lý từng nội dung sang xử lý nguồn hoặc mạng lưới.
Xây dựng cơ chế chống tái phạm có kiểm soát
Theo Luật sư Lê Quang Vinh, mục tiêu cuối cùng không phải là tạo thêm một “siêu cơ chế” thực thi mới, mà là kết nối hiệu quả những công cụ hiện có.
Một hồ sơ thực thi tối thiểu cần được chuẩn hóa để có thể sử dụng xuyên suốt khi vụ việc chuyển từ nền tảng sang hành chính, dân sự, hình sự hoặc hải quan. Cùng với đó là cơ chế chuyển tuyến rõ ràng, xác định khi nào một vụ việc cần được chuyển sang cơ quan quản lý thị trường, khi nào có dấu hiệu hình sự, khi nào cần Tòa án yêu cầu xuất trình chứng cứ hoặc khi nào thông tin từ gian hàng trực tuyến có thể dẫn tới một lô hàng nhập khẩu.
Việc chống tái phạm cũng cần có mục tiêu, thay vì áp đặt giám sát chung. Các tín hiệu như hình ảnh, số điện thoại, tài khoản nhận tiền, địa chỉ kho, mẫu sản phẩm, phương thức quảng cáo hoặc mạng lưới kho vận có thể được sử dụng để nhận diện rủi ro. Nhưng mức độ hạn chế phải tương xứng với mức độ chắc chắn của chứng cứ, đồng thời có cơ chế phản đối và khôi phục trong trường hợp yêu cầu ban đầu không đứng vững.
Đối với những trang vi phạm bản quyền xuyên biên giới, khi việc xử lý tại nguồn không khả thi, chặn truy cập có thể là một công cụ bổ sung. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ khoanh vùng thiệt hại, không tự xác định người vận hành, không thu hồi khoản thu bất chính và không bảo đảm ngăn được việc đổi tên miền hoặc hạ tầng.
Bởi vậy, chặn truy cập cần được đặt trong một chiến lược rộng hơn, kết hợp xử lý tên miền, dòng tiền, quảng cáo và điều tra người vận hành khi có căn cứ.
Theo Luật sư Lê Quang Vinh, một hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số chỉ thực sự hiệu quả khi có thể trả lời được những câu hỏi về kết quả cuối cùng.
Bao lâu từ khi nhận thông báo hợp lệ đến khi có phản ứng đầu tiên? Bao nhiêu nội dung được khôi phục vì yêu cầu ban đầu không đứng vững? Tỷ lệ tái phạm sau 7, 30 hoặc 90 ngày là bao nhiêu? Có bao nhiêu vụ truy được tới nguồn hàng hoặc người hưởng lợi? Bao nhiêu quyết định được thi hành đầy đủ? Bao nhiêu hồ sơ được chuyển tuyến thành công?
Theo tham luận, nếu chỉ đếm số đường dẫn bị gỡ hoặc số cuộc kiểm tra, hệ thống có thể tạo ra nhiều hoạt động nhưng chưa chắc làm giảm đáng kể khả năng tái phạm.
Do đó, cần từng bước xây dựng bộ số liệu nền với định nghĩa thống nhất, đồng thời phân tách theo từng loại quyền và biện pháp. Tỷ lệ gỡ một bản sao phim lậu, tỷ lệ xử lý gian hàng bán hàng giả, tỷ lệ chặn trang vi phạm hay tỷ lệ khởi kiện dân sự thành công phản ánh những hiện tượng khác nhau và không nên gộp thành một chỉ số duy nhất.
Từ góc độ phát triển công nghiệp văn hóa, đây là vấn đề có ý nghĩa lâu dài. Khi sáng tạo có thể được bảo vệ, chủ thể quyền mới có thêm niềm tin để đầu tư, cấp phép và đưa sản phẩm ra thị trường. Ngược lại, nếu chi phí xâm phạm quá thấp và khả năng tái phạm quá cao, giá trị của sáng tạo dễ bị suy giảm ngay trong quá trình thương mại hóa.
Vì vậy, tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số không chỉ nhằm xử lý các vụ vi phạm riêng lẻ. Mục tiêu rộng hơn là hình thành một hạ tầng pháp lý và thực thi đủ nhanh để ngăn thiệt hại, đủ chính xác để xác định đúng người chịu trách nhiệm, đủ chặt chẽ để bảo toàn chứng cứ và đủ hiệu quả để làm cho tái phạm trở nên khó hơn, đắt hơn.
Khi những yêu cầu đó được thực hiện đúng pháp luật, có khả năng kiểm chứng và phối hợp giữa các chủ thể liên quan, quyền sở hữu trí tuệ sẽ không chỉ tồn tại trên giấy mà trở thành một hạ tầng niềm tin quan trọng cho sáng tạo, đầu tư và sự phát triển bền vững của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Phạm Tài - Thái An
Nguồn: www.sohuutritue.net.vn













